Trần Tống - 04/2014
3. Bậc
tiểu học
Cuối
năm Mẫu giáo là học sinh ngoan giỏi nên tôi được một phần thưởng với một ram vở
50 trang, hai hộp bút chì, một quyển sách hình vẽ để tập tô màu… tôi thích nhất
là hộp cu lơ 12 màu. Lúc ấy, tôi vẽ không đẹp mấy nhưng năng khiếu về kỹ thuật
tô màu hình vẽ đã có trong tôi tự bao giờ. Dùng bút chì màu để tô các hình vẽ
sẳn lúc nào tôi cũng được thầy cô khen bởi cách tô của tôi rất đều màu. Nhớ lại
những năm khó khăn ấy, vì không có điều kiện để mua hộp bút chì màu nên đành
phải dùng cây màu bằng sáp. Tô bằng sáp màu rất khó, nếu không biết cách màu sẽ
đậm lợt không đều trông rất xấu. Vậy mà lúc ấy tôi đã biết cách sau khi tô xong
dùng giấy để đánh bóng lại cho màu được đều hơn…
Cuối
hè năm 1964 tôi được vào học lớp Năm (Lớp 1) ở trường Trung Tiểu học Sao Mai thuộc
Giáo phận Công giáo Đà Nẵng. Và trong năm này mẹ cũng không còn ở với gia đình
anh chị hai mà đi giúp việc cho một gia đình công chức phục vụ trong
phi trường Đà Nẵng. Lớp Năm thời bấy giờ lũ trẻ bậc tiểu học chúng
tôi chưa có khái niệm học thêm như thời nay, ham chơi hơn ham
học. Chương trình giảng dạy cho lớp năm chủ yếu là tập viết, tập đọc và học
thuộc lòng. Ở lớp này chưa được sử dụng bút mực, phải dùng bút chì đen để tập
viết, do vậy mỗi học sinh khi đi học thường đem theo cây bút chì, cục tẩy và đồ
gọt bút chì…
Một
trong những kỷ niệm ở lớp Năm thật khó quên… Cách viết chữ bằng bút chì của tôi hơi khác với các bạn cùng lớp, thông thường mọi người gọt bút chì cho hơi nhọn tròn đầu để viết; với tôi
sau khi gọt bút chì tôi lại mài cho đầu bút chì hơi bằng. Nét chữ của tôi viết không đều đều như các bạn, trong một từ có
nét to, có nét nhỏ làm cho chữ viết có nét đặc trưng riêng biệt lạ mắt. Lớp tôi
học (lớp Năm) gần kề lớp anh
chị lớn hơn (lớp Nhất), cô giáo thấy vở của tôi sạch và chữ
viết lạ, đẹp nên đem sang khoe với anh chị học sinh lớp Nhất.
Trong lớp ấy có anh Long con của đại úy đại đội trưởng đơn vị của anh rể tôi,
biết được sự việc ấy nên ba mẹ anh Long gọi tôi đến nhà (trong đồn lính) để
khen ngợi, kể từ đó mỗi chiều thứ bảy tôi thường vào trong đồn - nhà ông bà ấy
chơi, nhờ vậy mà tôi có điều kiện tập đi xe đạp và đã biết đi xe đạp từ năm lớp
Năm… Tôi thích và vẫn còn nhớ những bài học thuộc lòng
“Em yêu cô giáo lớp Năm
Cô thích dạy lại chăm chấm bài
Có lần cả lớp viết sai
Thế mà cô chẳng phại ai bao giờ!...”
Lớp học bình dân
“Đêm đêm trên khắp
nẽo đường
Từ trong thôn xóm đến
trường bình dân
Rộn ràng vui những
bước chân
Nhấp nhô bao ánh đèn
gần đuốc xa
Trẻ, già vang tiếng ê
… a
Bà con hàng xóm cũng
là anh em
Người hút thuốc kẻ
nhai trầu
Quần nâu áo vải đậm
màu thôn quê
Anh Bình thật chịu
khó ghê
Chăm lo giảng dạy
không cần kể công
Mọi người
đọc thạo viết thông
Ai ai
cũng nhớ ơn anh giáo làng”
Tập vẽ bản đồ
“Hôm qua tập vẽ bản
đồ,
Thầy em lên bảng kẻ ô
rõ ràng
Ranh giới có phấn
vàng dễ kiếm
Từ Nam Quan cho đến Cà Mau
Từng nơi, thầy thuộc
làu làu
Đây sen Đồng Tháp,
đây cầu Hiền Lương
Biển Đông Hải, trùng
dương xanh thẳm
Núi cheo leo thầy
chấm màu nâu
Sông xanh uốn khúc,
rừng sâu chập chùng
Rồi với giọng trầm
hùng, thầy giảng
“Giống Rồng Tiên chói
rạng núi rừng
Trải bao thăng giáng,
phế hưng
Làn không khí giờ đây
ta thở
Đường ta đi, nhà ở
nơi này
Tổ tiên từng chịu
đắng cay
Mới lưu truyền lại
đất này cho ta...”
Lũ nhóc chúng tôi, nhà ở trong trại gia binh nào là thằng Tùng “gầy” con ông Minh, thằng Hai “lép”, thằng Hiệp con ông Dưng, thằng Hùng con ông Năm… là những đứa trẻ nghịch ngợm vô tư như bao đứa trẻ khác cùng lứa. Chủ nhật thường rủ nhau chơi bắn bi, chơi trốn tìm (chơi năm mười) hoặc vào đồn hái trái trứng cá, hái trái bàng để ăn, dùng lá bàng kết thành mũ để làm lính duyệt binh… Nhiều loại trái như xoài xanh, ổi, trâm, sim... rất hấp dẫn với lũ trẻ chúng tôi nhưng những trái ấy phải về vùng nông thôn mới có được hoặc phải mua ngoài chợ. Qua kinh nghiệm tôi biết rằng không phải cây bàng nào cũng đều cho trái ngon cả. Vì vậy phải biết chọn trái của cây bàng nào để ăn. Với trái bàng chín màu da vàng ửng, bóng mềm ăn vào nghe thơm phức. Sau khi ăn sạch cơm rồi lại lấy hột, dùng cục đá đập vỡ vỏ cứng, lấy nhân bên trong ăn thấy bùi bùi. Trèo hái trái bàng, trái trứng cá để ăn có thể để thỏa mãn cái tính nghịch, thèm thuồng của trẻ con nhưng trong sâu lắng của riêng tôi nó còn có một nguyên nhân sâu sắc hơn đó là do sự thiếu thốn lúc bấy giờ.
“Ðói
lòng ăn nửa trái sim
Uống
lưng bát nước đi tìm người thương”
“Ù ơ ba trái ù ơ
Chim ăn hết hột còn xơ với cùi
Ù ơ hột chín hột mười
Hột rơi xuống đất hột lùi nồi cơm”
Từ năm 1965 đến năm 1969 tôi theo học lớp Bốn (Lớp 2) đến
lớp Nhất (Lớp 5) ở trường Tiểu học Bồ Đề Tỉnh Hội (còn gọi
là Bồ Đề nhỏ). Ngôi trường này tọa lạc ngay trong khuôn viên chùa Pháp Lâm (còn
gọi là chùa Tỉnh Hội ), nay cơ sở vẫn còn
thuộc quyền sở hữu của chùa Pháp Lâm nhưng đã sử dụng vào mục đích khác.
Cùng trong
thời gian này, vì anh rể tôi đã là hạ sĩ nhất nên gia đình không còn ưu tiên được
cấp nhà ở trong khu gia binh nữa mà phải ra thuê nhà trong xóm kiệt 6 - chợ
Hoành Sơn đường Hoàng Diệu. Ở thời điểm này, với đồng lương của một hạ sĩ phải
lo “cơm - áo - gạo - tiền” cho 8 nhân khẩu, nào là áo quần, nào là sách vở, học
hành… và bây giờ lại thêm một gánh nặng bởi tiền thuê nhà. Tuy cuộc sống của gia
đình không được sung túc hư các gia đình khác, nhưng cậu cháu tôi rất thương
yêu nhau, luôn chia sẽ cho nhau từng bát cơm, miếng cá, cộng rau. Suốt những
năm tháng còn là học sinh phổ thông chúng tôi ít có dịp ngồi ăn sum họp chung trên
mâm cơm gia đình; mỗi đứa được chia cho một bát cơm chung với đồ ăn, vài cộng
rau, vài miếng cá, con tôm hay vài lát thịt; tiêu chuẩn chỉ có vậy, no hay đói
cũng đành chịu không lấy đâu ra để ăn thêm nữa…
Xóm
tôi ở, một xóm vắng êm đềm hiền hòa và mát mẻ, khoảng thời gian này ở đây nhà
cửa còn thưa thớt, gia đình nào cũng có sân vườn rộng rãi trồng cây. Sân chơi
nhà bốn gian làm tôi nhớ mãi - sở dĩ gọi là nhà bốn gian vì trong một khu đất
khá rộng có 4 gia đình công chức ở, trong sân có vài cây vú sữa vỏ đỏ và vú sữa
nếp (vỏ màu trắng). Những ngày nghỉ, lũ trẻ trong xóm thường tập trung ở đây để
nô đùa, nghịch ngợm. Nào là chơi cớp cờ, bịt mắt bắt dê, nhảy chồng cao, đánh
tổng, chơi trò tán lon, tán bóng… bắn bi ăn bi hoặc ăn thua nhau bằng bao thuốc lá, nắp ken, dây cao su, các
tấm bóng… Vốn luyến của lũ nhóc chúng tôi là những vỏ bao thuốc Salem, Palmal,
Capstan… đã lượm được, là những cái nắp ken bia la-ve, nước ngọt
Cocacola, xá xị … Nắp ken bia la-ve có
giá trị cao gấp 2 lần các nắp ken khác... “CAPSTAN” là tên một loại thuốc lá
được lũ trẻ tinh nghịch nghe, học và đọc xuôi rồi đọc ngược rất vần như sau:
“Cho Anh Phát Súng Tim Anh Nát”
“ Nhưng AnhTin Số Phận Anh Còn”
“ Nhưng AnhTin Số Phận Anh Còn”
“Con Anh Phá Sản Tại Anh
Ngu”
“Ngày Anh Tan Sản Phải An Cướp”
"Chiếc Áo Phong Sương Tình Anh Nặng”
"Nghĩa Ân Tình Sao Phụ Anh Chăng”
“Ngày Anh Tan Sản Phải An Cướp”
"Chiếc Áo Phong Sương Tình Anh Nặng”
"Nghĩa Ân Tình Sao Phụ Anh Chăng”
Hồi
còn ở trong đồn lũ trẻ chúng tôi chỉ được thưởng thức hương vị của trái trứng
cá và trái bàng; còn ở xóm này tha hồ hái trộm những quả chín khác nữa. Nhà bốn
gian có cây vú sữa, nhà ông Hai Dưng cây sam-bu-chê đã có trái, nhà ông Vọng phía
sau và nhà bà Lan phía trước có cây khế, bên hông nhà lại có cây mãng cầu ta, ở
xóm dưới nhà ông Quy, nhà bà Thông Hạnh có vài cây mận và cây đào… Toàn là
những loại trái cây cao cấp ngon và bổ, nhưng tôi vẫn thích nhất cái hương vị
ngọt thanh của trái khế phía sau nhà ông Vọng, trái khế thon nhỏ, không to, bề
mặt trái hơi bóng và chỉ có 4 khía, thậm chí chỉ có 3 khía chứ không phải 5
khía như các trái khế bình thường khác…
Hằng
ngày tôi đi bộ để đến trường, từ nhà đến trường tiểu học Bồ Đề khoảng chừng 1
cây số. Chúng tôi thích đi trong kiệt men dọc theo đường Hoàng Diệu để đến
trường vì con đường bằng đất ấy có nhiều cây xanh với bóng mát, thỉnh thoảng mới
ra đường Hoàng Diệu, rồi theo đường Ông Ích Khiêm để đến trường. Trên đường đến
trường của lũ nhóc học trò chúng tôi thì có rất nhiều chuyện để nhớ lại…“Nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò” mà. Tuổi học trò luôn hồn nhiên, tinh
nghịch, quậy phá những cũng rất dễ thương, đó là những kỷ niệm trong sáng khó
quên nhất của một thời học sinh.
Với
hoàn cảnh gia đình kinh tế khó khăn, thiếu trước hụt sau nên buổi sáng tôi thường
nhịn đói để đi học, năm khi mười họa được người lớn cho tiền mới mua được củ
khoai lang, củ sắn để lót dạ buổi sáng; nhất là dịp tết có tiền lì xì thì để
dành một phần mua bút, mực còn lại để dành ăn sáng và cũng không quên trích một
phần mua bi để bắn, mua tấm giấy bóng để chơi. Lúc ấy đâu dám mua bánh mì thịt
để ăn (một ổ 5 đ), nếu có tiền cũng
chỉ mua bánh mì không ( 3 đ một ổ) và
xin chan thêm một chút nước “bánh mì chan
nước” là ngon lắm rồi; đôi khi bà Ba bán bánh mì gần tiệm sách Hoành Sơn
thấy thương tình, chan nước sốt có một ít dăm thịt vào bánh mì, vậy là có một ổ
bánh mì thật ngon, thật sung sướng và thầm cám ơn bà...
Các môn học ở bậc tiểu học ngoài
môn tập đọc, học thuộc lòng, công dân giáo dục… tôi chỉ nhớ mang máng như sau: Học xong lớp Năm là phải đọc thông viết thạo, nắm vững hai phép toán cộng trừ; lớp Tư, lớp Ba thì
bắt đầu viết chính tả và tập làm văn, thuộc bảng cửu chương để làm các bài toán
nhân, toán
chia; đến lớp Nhì, lớp Nhất làm văn tả người, tả cảnh, tả
vật và có thêm phần toán đố.
Biết là vậy, nhưng thú thật trong suốt thời gian học tiểu học ở trường Bồ Đề,
tôi là một trong những học sinh đứng tốp 5 kể từ dưới đếm lên. Nhớ lại, ở lớp
Năm khi dùng bút chì để viết chữ của tôi đẹp bao nhiêu thì trái lại bắt đầu lên
lớp Tư viết bằng bút mực, chữ tôi viết thật xấu như “mèo quào” lại lem luốt rất
khó coi; toán cộng trừ có khi đúng khi sai, khổ tâm là toán nhân, vất vả nhất
là toán chia; lên lớp Nhất còn thêm phần toán đố, nào là đường dài, vận tốc
chuyển động, đi trước, đi sau… còn thêm nữa bài toán hai vòi nước chảy, “vừa mèo
vừa chó bó lại cho tròn…” dùng giả sử này, phép khử nọ… ôi thôi thật là mù tịt. Với môn
tập làm văn tôi cũng hiểu rằng gồm ba phần “mở
đầu, thân bài và kết luận” nhưng thật tế cũng chẳng biết viết gì, tả cái gì
cho ra hồn cả vì vậy các bài văn của tôi lúc nào cũng dưới điểm trung bình. Nhớ một lần ở lớp Nhất, lúc ấy tôi học với
thầy Chiến, thầy cho về nhà làm bài văn tả con bồ câu ở nhà em. Đã một ngày suy
nghĩ rồi loay hoay viết mà cũng chưa được cái phần mở đầu. May quá! tôi hỏi và tìm ra thấy một bài văn tả con bồ
câu được 8 điểm của cháu Loan (gọi tôi bằng cậu) học hơn tôi một lớp, nó học
lớp Nhất năm trước với thầy Kỳ. Thế rồi tôi đem bài văn ấy sửa lại vài câu từ cho
hợp lý để không trùng khớp với bài văn cũ, hy vọng sẽ được điểm cao, cuối cùng
cũng chỉ nhận được điểm trung bình. Từ đó tôi mới hiểu rằng chấm điểm môn văn
không giống như chấm điểm môn toán…
Ngược
lại, tôi chỉ thích môn tập đọc và học thuộc lòng. Từ nhỏ
tôi đã thích nghe những câu hò, những điệu hát ru em. Những
bài học thuộc lòng là những câu thơ có vần và giàu âm điệu, dạy
những điều hay, lẽ phải, bao nhiêu tấm gương anh hùng lịch sử,
hay nỗi buồn chia tay mùa phượng vĩ của tuổi học trò... Vì vậy những bài học thuộc lòng ở những năm
tiểu học ngày
ấy đến giờ này tuy không còn nhớ chính xác tựa đầu bài,
nhưng tôi vẫn còn
nhớ
và thuộc
nằm lòng hầu hết câu từ.
Đi về
“Tôi có người anh được
xuất dương
Hôm qua anh ấy đã lên đường
Cả nhà ra tận sân bay tiễn
Phút biệt ly nào chẳng vấn vương
Xen lẫn bao nhiêu kẻ đợi chờ
Em nhìn nắng tắm dẫy phi cơ
Nghĩ về muôn nẻo trời xa lạ
Thấy rộn lòng son những ước mơ
Anh đứng trên thang vẫy vẫy chào
Xem chừng thích thú biết là bao
Em cười trong lúc me và chị
Nước mắt trào dâng giọng nghẹn ngào
Máy nổ rồi chong chóng vút quay
Phi cơ cất cánh nhẹ nhàng bay
Em nghe trong gió nhớ lời anh dặn
Sẽ trở về sum họp một ngày”
Nghỉ Hè
“Sung sướng quá, giờ cuối
cùng đã điểm,
Ðoàn chim non hớn hở rủ nhau về.
Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê,
Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ !
Một nét mặt, trăm tiếng cười rộn rã
Lời trên môi, chen chúc nối nghìn câu
Chờ đêm nay, sáng sớm bước lên tàu
Ăn chẳng được, lòng nôn nao khó ngủ.
Trong khoảnh khắc, sách bài là giấy cũ.
Nhớ làm chi, thầy mẹ đợi, em trông.
Trên đường làng huyết phượng nở thành bông,
Và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt.
Kiểm soát kỹ có khi còn thiếu sót,
Rương chật rồi, khó nhốt cả niềm vui.
Tay bắt tay, lòng không chút bùi ngùi,
Các bạn hỡi, trời mai đầy ánh sáng”
Trận cầu Quốc tế
“Nắng vừa xế, cổng thao trường rộng mở
Cả hai đoàn cầu thủ tiến ra sân
Tiếng hoan hô vang dội khắp xa gần
Để cổ vũ cho trận cầu quốc tế
Đoàn tuyển thủ nước nhà hơi nhỏ bé
Nếu so cùng cầu tướng ở phương xa
Còi xuất quân lanh lảnh được ban ra
Thì trận đấu đã vô cùng sôi nổi
Tiền đạo ta như sóng cồn tiến tới
Khi tạt ngang khi nhồi bóng, làm bàn
Khiến đối phương thành rối loạn hoang mang
Hậu vệ yếu phải quay về thế thủ
Thiếu bình tỉnh một vài người chơi dữ
Nên trọng tài cảnh cáo đuổi ra sân.
Quả bóng da lăn lộn biết bao lần
Hết hai hiệp và đội nhà đã thắng
Ta tuy bé song đồng lòng cố gắng
Biết nêu cao gương đoàn kết đấu tranh
Khi giao banh khi phá lưới hãm thành
Nên đoạt giải dù địch to gấp bội”
Cậu bé bán báo
“Tôi chỉ là một trẻ con
bán báo
Khắp phố phường chân sáo nhẩy tung tăng
Cất tiếng rao lanh lảnh vang đường
Đem những món văn chương chào khách
Này tạp chí này tân văn... tôi cắp nách
Đón mời chư mặc khách tao nhân
Trong xóm văn chương tôi không phải không cần
Ít chữ nghĩa chỉ giữ chân bán báo
Phận nhỏ mọn có chi mà
vênh váo
Nhưng bán văn chương ai dám bảo nghề hèn
Vả trên đời giấy trắng mực đen
Duyên ai phận nấy hờn ghen thì cũng lố
Chẳng qua bởi trời sinh tôi xấu số
Bắt sa chân vào chỗ nghèo nàn
Nhưng có xấu chi cái cảnh cơ hàn
Dưới manh áo tôi sẵn tấm lòng vàng trong sạch”
Hận Sông Gianh
“Đây sông Gianh đây biên
cương thống khổ
Đây sa trường đây nấm mộ dân nam
Đây giòng sông, giòng máu Việt còn loang
Đây cổ độ xương tàn xưa chất đống
Và còn đây hận phân chia nòi giống
Và còn đây cơn ác mộng tương tàn
Và còn đây hồn dân việt thác oan
Bao thế kỷ chưa tan niềm uất hận
Ôi Việt Nam cùng Việt Nam gây hấn
Muôn đời sau để hận cho giòng sông
Mộng bá vương Trịnh- Nguyễn có còn không
Nhục nội chiến non sông còn in vết
Đây sông Gianh nơi nồi da xáo thịt
Nơi gươm Hồng tàn phá giống Lạc Hồng
Nơi máu hồng nhuộm đỏ sóng giòng sông
Máu nhơ bẩn muôn đời không rửa sạch “
Tôi yêu
Từ tấm-bé, một mối tình cao-qúi
Và thiêng-liêng ràng buộc lấy tâm-hồn.
Tôi yêu lắm, ông bà cao niên-kỷ
Chút tháng ngày như bóng nắng hoàng-hôn.
Tôi yêu mẹ, từng đẻ đau, mang nặng,
Tôi yêu cha, cho cơm
áo, cửa nhà
Yêu anh chị, chung vui-buồn, mưa nắng
Yêu họ-hàng, cô bác khắp gần xa
Trong xóm nhỏ, tôi yêu người lân-lý,
Ra trường, yêu thầy dạy-dỗ nên người;
Yêu bè-bạn, sách bài cùng chăm chỉ
Yêu học-đường
đầy lá thắm, hoa tươi.
Khi khôn lớn, tôi yêu nòi giống Việt,
Yêu giang san đầy gấm-vóc, vàng-son.
Từ nghìn xưa bao anh-hùng hào-kiệt
Đã mất đi cho đất, nước luôn còn...
TRẦN-HUYỀN-ÂN
Với những bài học về lịch sử ca ngợi một vị anh hùng dân tộc nào đó, thông thường ở tựa đầu bài có câu thơ hoặc vài lời vắn tắc diễn tả công trạng, tính cách điển hình của nhân vật đó:
“ Hai mốt Lê Lai hai hai Lê Lợi” - Lê Lai
“ Hai mốt Lê Lai hai hai Lê Lợi” - Lê Lai
Gươm mài bóng nguyệt đã bao ngày “ – Đặng Dung
“Phá cường địch, báo Hoàng ân”– Trần Quốc Toản
“Anh hùng bán than” – Trần Khánh Dư
“Ngồi đan sọt mà lo việc nước” – Phạm Ngũ Lão
“Thất trảm sớ - Xin chém đầu bảy nịnh thần”
– Chu Văn An
“Thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”–Trần Bình Trọng
Nghĩ
lại, thấy bản thân đã tự đánh mất cái “logit”
mà người đời thường ví “con nhà giàu học
dốt”…? nhưng ngược lại với tôi “con
nhà nghèo lại học dốt ”. Lúc ấy tôi chẳng nhận được sự định hướng cho việc học
tập, bản thân cũng chưa có một khái niệm gì về học hành, hằng ngày ôm sách vở đến
trường rồi lại về nhà... Đúng với câu từ
mà gia đình thường dành cho tôi, sao mà “lêu
lổng” rứa? Thật ra “từ ngữ” này
nó có nhiều cấp độ, với bản thân tôi tuy học dốt nhưng rất hiền, sẳn sàn giúp
đỡ, thương yêu mọi người, chỉ có cái tội là ham chơi. Mỗi buổi trưa đều có lệnh
tất cả đi “ngủ trưa” vậy là ai cũng nghe lời nằm sắp lớp trên nền xi-măng để
nghỉ trưa, thế nhưng nằm xuống chỉ vài phút cho yên ổn là tôi len lén đứng dậy
lấy vài viên bi, nắp ken… ra khỏi nhà đi chơi ăn thua với bạn trẻ ở hàng xóm;
trưa nào không còn “tài khoản” thì
lại đến xem các anh đánh bi da, bóng
bàn... buổi tối lại chơi trốn tìm hoặc qua nhà ông Quang xem vô tuyến truyền
hình; nào là phim cao bồi, com-bat, lỗ tai lừa...rất là hấp dẫn với bọn trẻ
chúng tôi thời ấy. Cái ”lêu lổng” của
tôi là rứa đó!... Cuối lớp Năm-niên khóa 1968-1969, thi rớt vào lớp đệ thất
trường công Phan Chu Trinh, nhưng cũng đủ điểm chuyển cấp, tôi xin vào học lớp
đệ thất ở trường tư thục “Trung học Bồ Đề”.



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét