Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2019

TẢN MẠN KÍ ỨC THUỞ ẤY...(2. Tiểu học)

Trần Tống - 04/2014
3.     Bậc tiểu học
Cuối năm Mẫu giáo là học sinh ngoan giỏi nên tôi được một phần thưởng với một ram vở 50 trang, hai hộp bút chì, một quyển sách hình vẽ để tập tô màu… tôi thích nhất là hộp cu lơ 12 màu. Lúc ấy, tôi vẽ không đẹp mấy nhưng năng khiếu về kỹ thuật tô màu hình vẽ đã có trong tôi tự bao giờ. Dùng bút chì màu để tô các hình vẽ sẳn lúc nào tôi cũng được thầy cô khen bởi cách tô của tôi rất đều màu. Nhớ lại những năm khó khăn ấy, vì không có điều kiện để mua hộp bút chì màu nên đành phải dùng cây màu bằng sáp. Tô bằng sáp màu rất khó, nếu không biết cách màu sẽ đậm lợt không đều trông rất xấu. Vậy mà lúc ấy tôi đã biết cách sau khi tô xong dùng giấy để đánh bóng lại cho màu được đều hơn…
Cuối hè năm 1964 tôi được vào học lớp Năm (Lớp 1) ở trường Trung Tiểu học Sao Mai thuộc Giáo phận Công giáo Đà Nẵng. Và trong năm này mẹ cũng không còn ở với gia đình anh chị hai mà đi giúp việc cho một gia đình công chức phục vụ trong phi trường Đà Nẵng. Lớp Năm thời bấy giờ lũ trẻ bậc tiểu học chúng tôi chưa có khái niệm học thêm như thời nay, ham chơi hơn ham học. Chương trình giảng dạy cho lớp năm chủ yếu là tập viết, tập đọc và học thuộc lòng. Ở lớp này chưa được sử dụng bút mực, phải dùng bút chì đen để tập viết, do vậy mỗi học sinh khi đi học thường đem theo cây bút chì, cục tẩy và đồ gọt bút chì…

Một trong những kỷ niệm ở lớp Năm thật khó quên… Cách viết chữ bằng bút chì của tôi hơi khác với các bạn cùng lớp, thông thường mọi người gọt bút chì cho hơi nhọn tròn đầu để viết; với tôi sau khi gọt bút chì tôi lại mài cho đầu bút chì hơi bằng. Nét chữ của tôi viết không đều đều như các bạn, trong một từ có nét to, có nét nhỏ làm cho chữ viết có nét đặc trưng riêng biệt lạ mắt. Lớp tôi học (lớp Năm) gần kề lớp anh chị lớn hơn (lớp Nhất), cô giáo thấy vở của tôi sạch và chữ viết lạ, đẹp nên đem sang khoe với anh chị học sinh lớp Nhất. Trong lớp ấy có anh Long con của đại úy đại đội trưởng đơn vị của anh rể tôi, biết được sự việc ấy nên ba mẹ anh Long gọi tôi đến nhà (trong đồn lính) để khen ngợi, kể từ đó mỗi chiều thứ bảy tôi thường vào trong đồn - nhà ông bà ấy chơi, nhờ vậy mà tôi có điều kiện tập đi xe đạp và đã biết đi xe đạp từ năm lớp Năm… Tôi thích và vẫn còn nhớ những bài học thuộc lòng
 
Cô giáo lớp năm
Em yêu cô giáo lớp Năm
Cô thích dạy lại chăm chấm bài
Có lần cả lớp viết sai
Thế mà cô chẳng phại ai bao giờ!...

Lớp học bình dân
“Đêm đêm trên khắp nẽo đường
Từ trong thôn xóm đến trường bình dân
Rộn ràng vui những bước chân
Nhấp nhô bao ánh đèn gần đuốc xa
Trẻ, già vang tiếng ê … a
Bà con hàng xóm cũng là anh em
Người hút thuốc kẻ nhai trầu
Quần nâu áo vải đậm màu thôn quê
Anh Bình thật chịu khó ghê
Chăm lo giảng dạy không cần kể công
Mọi người đọc thạo viết thông
Ai ai cũng nhớ ơn anh giáo làng”

Tập vẽ bản đồ
“Hôm qua tập vẽ bản đồ,
Thầy em lên bảng kẻ ô rõ ràng
Ranh giới có phấn vàng dễ kiếm
Từ Nam Quan cho đến Cà Mau
Từng nơi, thầy thuộc làu làu
Đây sen Đồng Tháp, đây cầu Hiền Lương
Biển Đông Hải, trùng dương xanh thẳm
Núi cheo leo thầy chấm màu nâu
Tay đưa mềm mại đến đâu
Sông xanh uốn khúc, rừng sâu chập chùng
Rồi với giọng trầm hùng, thầy giảng
“Giống Rồng Tiên chói rạng núi rừng
Trải bao thăng giáng, phế hưng
Đem giòng máu thắm, bón từng gốc cây
Làn không khí giờ đây ta thở
Đường ta đi, nhà ở nơi này
Tổ tiên từng chịu đắng cay
Mới lưu truyền lại đất này cho ta...”
Lũ nhóc chúng tôi, nhà ở trong trại gia binh nào là thằng Tùng “gầy” con ông Minh, thằng Hai “lép”, thằng Hiệp con ông Dưng, thằng Hùng con ông Năm… là những đứa trẻ nghịch ngợm vô tư như bao đứa trẻ khác cùng lứa. Chủ nhật thường rủ nhau chơi bắn bi, chơi trốn tìm (chơi năm mười) hoặc vào đồn hái trái trứng cá, hái trái bàng để ăn, dùng lá bàng kết thành mũ để làm lính duyệt binh… Nhiều loại trái như xoài xanh, ổi, trâm, sim... rất hấp dẫn với lũ trẻ chúng tôi nhưng những trái ấy phải về vùng nông thôn mới  được hoặc phải mua ngoài chợ. Qua kinh nghiệm tôi biết rằng không phải cây bàng nào cũng đều cho trái ngon cả. Vì vậy phải biết chọn trái của cây bàng nào để ăn. Với trái bàng chín màu da vàng ửng, bóng mềm ăn vào nghe thơm phức. Sau khi ăn sạch cơm rồi lại lấy hột, dùng cục đá đập vỡ vỏ cứng, lấy nhân bên trong ăn thấy bùi bùi. Trèo hái trái bàng, trái trứng cá để ăn có thể để thỏa mãn cái tính nghịch, thèm thuồng của trẻ con nhưng trong sâu lắng của riêng tôi nó còn có một nguyên nhân sâu sắc hơn đó là do sự thiếu thốn lúc bấy giờ.

“Ðói lòng ăn nửa trái sim
Uống lưng bát nước đi tìm người thương”
“Ù ơ ba trái ù ơ
Chim ăn hết hột còn xơ với cùi
Ù ơ hột chín hột mười
Hột rơi xuống đất hột lùi nồi cơm”
Từ năm 1965 đến năm 1969 tôi theo học lớp Bốn (Lớp 2) đến lớp Nhất (Lớp 5) ở trường Tiểu học Bồ Đề Tỉnh Hội (còn gọi là Bồ Đề nhỏ). Ngôi trường này tọa lạc ngay trong khuôn viên chùa Pháp Lâm (còn gọi là chùa Tỉnh Hội ), nay cơ sở vẫn còn thuộc quyền sở hữu của chùa Pháp Lâm nhưng đã sử dụng vào mục đích khác.

Cùng trong thời gian này, vì anh rể tôi đã là hạ sĩ nhất nên gia đình không còn ưu tiên được cấp nhà ở trong khu gia binh nữa mà phải ra thuê nhà trong xóm kiệt 6 - chợ Hoành Sơn đường Hoàng Diệu. Ở thời điểm này, với đồng lương của một hạ sĩ phải lo “cơm - áo - gạo - tiền” cho 8 nhân khẩu, nào là áo quần, nào là sách vở, học hành… và bây giờ lại thêm một gánh nặng bởi tiền thuê nhà. Tuy cuộc sống của gia đình không được sung túc hư các gia đình khác, nhưng cậu cháu tôi rất thương yêu nhau, luôn chia sẽ cho nhau từng bát cơm, miếng cá, cộng rau. Suốt những năm tháng còn là học sinh phổ thông chúng tôi ít có dịp ngồi ăn sum họp chung trên mâm cơm gia đình; mỗi đứa được chia cho một bát cơm chung với đồ ăn, vài cộng rau, vài miếng cá, con tôm hay vài lát thịt; tiêu chuẩn chỉ có vậy, no hay đói cũng đành chịu không lấy đâu ra để ăn thêm nữa…
Xóm tôi ở, một xóm vắng êm đềm hiền hòa và mát mẻ, khoảng thời gian này ở đây nhà cửa còn thưa thớt, gia đình nào cũng có sân vườn rộng rãi trồng cây. Sân chơi nhà bốn gian làm tôi nhớ mãi - sở dĩ gọi là nhà bốn gian vì trong một khu đất khá rộng có 4 gia đình công chức ở, trong sân có vài cây vú sữa vỏ đỏ và vú sữa nếp (vỏ màu trắng). Những ngày nghỉ, lũ trẻ trong xóm thường tập trung ở đây để nô đùa, nghịch ngợm. Nào là chơi cớp cờ, bịt mắt bắt dê, nhảy chồng cao, đánh tổng, chơi trò tán lon, tán bóng bắn bi ăn bi hoặc ăn thua nhau bằng bao thuốc lá, nắp ken, dây cao su, các tấm bóng… Vốn luyến của lũ nhóc chúng tôi là những vỏ bao thuốc Salem, Palmal, Capstan đã lượm được, là những cái nắp ken bia la-ve, nước ngọt Cocacola, xá xị … Nắp ken bia la-ve có giá trị cao gấp 2 lần các nắp ken khác... “CAPSTAN” là tên một loại thuốc lá được lũ trẻ tinh nghịch nghe, học và đọc xuôi rồi đọc ngược rất vần như sau:
 “Cho Anh Phát Súng Tim Anh Nát” 
“ Nhưng AnhTin Số Phận Anh Còn”
“Con Anh Phá Sản Tại Anh Ngu”
“Ngày Anh Tan Sản Phải An Cướp” 
"Chiếc Áo Phong Sương Tình Anh Nặng” 
"Nghĩa Ân Tình Sao Phụ Anh Chăng”          
Hồi còn ở trong đồn lũ trẻ chúng tôi chỉ được thưởng thức hương vị của trái trứng cá và trái bàng; còn ở xóm này tha hồ hái trộm những quả chín khác nữa. Nhà bốn gian có cây vú sữa, nhà ông Hai Dưng cây sam-bu-chê đã có trái, nhà ông Vọng phía sau và nhà bà Lan phía trước có cây khế, bên hông nhà lại có cây mãng cầu ta, ở xóm dưới nhà ông Quy, nhà bà Thông Hạnh có vài cây mận và cây đào… Toàn là những loại trái cây cao cấp ngon và bổ, nhưng tôi vẫn thích nhất cái hương vị ngọt thanh của trái khế phía sau nhà ông Vọng, trái khế thon nhỏ, không to, bề mặt trái hơi bóng và chỉ có 4 khía, thậm chí chỉ có 3 khía chứ không phải 5 khía như các trái khế bình thường khác…
Hằng ngày tôi đi bộ để đến trường, từ nhà đến trường tiểu học Bồ Đề khoảng chừng 1 cây số. Chúng tôi thích đi trong kiệt men dọc theo đường Hoàng Diệu để đến trường vì con đường bằng đất ấy có nhiều cây xanh với bóng mát, thỉnh thoảng mới ra đường Hoàng Diệu, rồi theo đường Ông Ích Khiêm để đến trường. Trên đường đến trường của lũ nhóc học trò chúng tôi thì có rất nhiều chuyện để nhớ lại…“Nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò” . Tuổi học trò luôn hồn nhiên, tinh nghịch, quậy phá những cũng rất dễ thương, đó là những kỷ niệm trong sáng khó quên nhất của một thời học sinh.
Với hoàn cảnh gia đình kinh tế khó khăn, thiếu trước hụt sau nên buổi sáng tôi thường nhịn đói để đi học, năm khi mười họa được người lớn cho tiền mới mua được củ khoai lang, củ sắn để lót dạ buổi sáng; nhất là dịp tết có tiền lì xì thì để dành một phần mua bút, mực còn lại để dành ăn sáng và cũng không quên trích một phần mua bi để bắn, mua tấm giấy bóng để chơi. Lúc ấy đâu dám mua bánh mì thịt để ăn (một ổ 5 đ), nếu có tiền cũng chỉ mua bánh mì không ( 3 đ một ổ) và xin chan thêm một chút nước “bánh mì chan nước” là ngon lắm rồi; đôi khi bà Ba bán bánh mì gần tiệm sách Hoành Sơn thấy thương tình, chan nước sốt có một ít dăm thịt vào bánh mì, vậy là có một ổ bánh mì thật ngon, thật sung sướng và thầm cám ơn bà...
Các môn học ở bậc tiểu học ngoài môn tập đọc, học thuộc lòng, công dân giáo dụctôi chỉ nhớ mang máng như sau: Học xong lớp Năm là phải đọc thông viết thạo, nắm vững hai phép toán cộng trừ; lớp Tư, lớp Ba thì bắt đầu viết chính tả và tập làm văn, thuộc bảng cửu chương để làm các bài toán nhân, toán chia; đến lớp Nhì, lớp Nhất làm văn tả người, tả cảnh, tả vật và có thêm phần toán đố. Biết là vậy, nhưng thú thật trong suốt thời gian học tiểu học ở trường Bồ Đề, tôi là một trong những học sinh đứng tốp 5 kể từ dưới đếm lên. Nhớ lại, ở lớp Năm khi dùng bút chì để viết chữ của tôi đẹp bao nhiêu thì trái lại bắt đầu lên lớp Tư viết bằng bút mực, chữ tôi viết thật xấu như “mèo quào”  lại lem luốt rất khó coi; toán cộng trừ có khi đúng khi sai, khổ tâm là toán nhân, vất vả nhất là toán chia; lên lớp Nhất còn thêm phần toán đố, nào là đường dài, vận tốc chuyển động, đi trước, đi sau… còn thêm nữa bài toán hai vòi nước chảy,  vừa mèo vừa chó bó lại cho tròn…” dùng giả sử này,  phép khử nọ… ôi thôi thật là mù tịt. Với môn tập làm văn tôi cũng hiểu rằng gồm ba phần “mở đầu, thân bài và kết luận” nhưng thật tế cũng chẳng biết viết gì, tả cái gì cho ra hồn cả vì vậy các bài văn của tôi lúc nào cũng dưới điểm trung bình.  Nhớ một lần ở lớp Nhất, lúc ấy tôi học với thầy Chiến, thầy cho về nhà làm bài văn tả con bồ câu ở nhà em. Đã một ngày suy nghĩ rồi loay hoay viết mà cũng chưa được cái phần mở đầu. May quá!  tôi hỏi và tìm ra thấy một bài văn tả con bồ câu được 8 điểm của cháu Loan (gọi tôi bằng cậu) học hơn tôi một lớp, nó học lớp Nhất năm trước với thầy Kỳ. Thế rồi tôi đem bài văn ấy sửa lại vài câu từ cho hợp lý để không trùng khớp với bài văn cũ, hy vọng sẽ được điểm cao, cuối cùng cũng chỉ nhận được điểm trung bình. Từ đó tôi mới hiểu rằng chấm điểm môn văn không giống như chấm điểm môn toán…
Ngược lại, tôi chỉ thích môn tập đọc và học thuộc lòng. Từ nhỏ tôi đã thích nghe những câu hò, những điệu hát ru em. Những bài học thuộc lòng là những câu thơ có vần và giàu âm điệu, dạy những điều hay, lẽ phải, bao nhiêu tấm gương anh hùng lịch sử, hay nỗi buồn chia tay mùa phượng vĩ của tuổi học trò... Vì vậy những bài học thuộc lòng những năm tiểu học ngày ấy đến giờ này tuy không còn nhớ chính xác tựa đầu bài, nhưng tôi vẫn còn nhớ thuộc nằm lòng hầu hết câu từ.
Đi về
Tôi có người anh được xuất dương
Hôm qua anh ấy đã lên đường
Cả nhà ra tận sân bay tiễn
Phút biệt ly nào chẳng vấn vương
Xen lẫn bao nhiêu kẻ đợi chờ
Em nhìn nắng tắm dẫy phi cơ
Nghĩ về muôn nẻo trời xa lạ
Thấy rộn lòng son những ước mơ
Anh đứng trên thang vẫy vẫy chào
Xem chừng thích thú biết là bao
Em cười trong lúc me và chị
Nước mắt trào dâng giọng nghẹn ngào
Máy nổ rồi chong chóng vút quay
Phi cơ cất cánh nhẹ nhàng bay
Em nghe trong gió nhớ lời anh dặn
Sẽ trở về sum họp một ngày

Nghỉ Hè
Sung sướng quá, giờ cuối cùng đã điểm,
Ðoàn chim non hớn hở rủ nhau về.
Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê,
Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ !
Một nét mặt, trăm tiếng cười rộn rã
Lời trên môi, chen chúc nối nghìn câu
Chờ đêm nay, sáng sớm bước lên tàu
Ăn chẳng được, lòng nôn nao khó ngủ.
Trong khoảnh khắc, sách bài là giấy cũ.
Nhớ làm chi, thầy mẹ đợi, em trông.
Trên đường làng huyết phượng nở thành bông,
Và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt.
Kiểm soát kỹ có khi còn thiếu sót,
Rương chật rồi, khó nhốt cả niềm vui.
Tay bắt tay, lòng không chút bùi ngùi,
Các bạn hỡi, trời mai đầy ánh sáng

Trận cầu Quốc tế
Nắng vừa xế, cng thao trường rộng mở
Cả hai đoàn cầu thủ tiến ra sân
Tiếng hoan hô vang dội khắp xa gần
Để cổ vũ cho trận cầu quốc tế
Đoàn tuyển thủ nước nhà hơi nhỏ bé
Nếu so cùng cầu tướng ở phương xa
Còi xuất quân lanh lảnh được ban ra
Thì trận đấu đã vô cùng sôi nổi
Tiền đạo ta như sóng cồn tiến tới
Khi tạt ngang khi nhồi bóng, làm bàn
Khiến đối phương thành rối loạn hoang mang
Hậu vệ yếu phải quay về thế thủ
Thiếu bình tỉnh một vài người chơi dữ
Nên trọng tài cảnh cáo đuổi ra sân.
Quả bóng da lăn lộn biết bao lần
Hết hai hiệp và đội nhà đã thắng
Ta tuy bé song đồng lòng cố gắng
Biết nêu cao gương đoàn kết đấu tranh
Khi giao banh khi phá lưới hãm thành
Nên đoạt giải dù địch to gấp bội

Cậu bé bán báo
Tôi chỉ là một trẻ con bán báo
Khắp phố phường chân sáo nhẩy tung tăng
Cất tiếng rao lanh lảnh vang đường
Đem những món văn chương chào khách
Này tạp chí này tân văn... tôi cắp nách
Đón mời chư mặc khách tao nhân
Trong xóm văn chương tôi không phải không cần
Ít chữ nghĩa chỉ giữ chân bán báo
Phận nhỏ mọn có chi mà vênh váo
Nhưng bán văn chương ai dám bảo nghề hèn
Vả trên đời giấy trắng mực đen
Duyên ai phận nấy hờn ghen thì cũng lố
Chẳng qua bởi trời sinh tôi xấu số
Bắt sa chân vào chỗ nghèo nàn
Nhưng có xấu chi cái cảnh cơ hàn
Dưới manh áo tôi sẵn tấm lòng vàng trong sạch

Hận Sông Gianh
Đây sông Gianh đây biên cương thống khổ
Đây sa trường đây nấm mộ dân nam
Đây giòng sông, giòng máu Việt còn loang
Đây cổ độ xương tàn xưa chất đống
Và còn đây hận phân chia nòi giống
Và còn đây cơn ác mộng tương tàn
Và còn đây hồn dân việt thác oan
Bao thế kỷ chưa tan niềm uất hận
Ôi Việt Nam cùng Việt Nam gây hấn
Muôn đời sau để hận cho giòng sông
Mộng bá vương Trịnh- Nguyễn có còn không
Nhục nội chiến non sông còn in vết
Đây sông Gianh nơi nồi da xáo thịt
Nơi gươm Hồng tàn phá giống Lạc Hồng
Nơi máu hồng nhuộm đỏ sóng giòng sông
Máu nhơ bẩn muôn đời không rửa sạch


Tôi yêu
Từ tấm-bé, một mối tình cao-qúi
Và thiêng-liêng ràng buộc lấy tâm-hồn.
Tôi yêu lắm, ông bà cao niên-kỷ
Chút tháng ngày như bóng nắng hoàng-hôn.
Tôi yêu mẹ, từng đẻ đau, mang nặng,
Tôi yêu cha, cho  cơm  áo, cửa nhà
Yêu anh chị, chung vui-buồn, mưa nắng
Yêu họ-hàng, cô bác khắp gần xa
Trong xóm nhỏ, tôi yêu người lân-lý,
Ra trường, yêu thầy dạy-dỗ nên người;
Yêu bè-bạn, sách bài cùng chăm chỉ
Yêu học-đường  đầy lá thắm, hoa tươi.
Khi khôn lớn, tôi yêu nòi giống Việt,
Yêu giang san đầy gấm-vóc, vàng-son.
Từ nghìn xưa bao anh-hùng hào-kiệt
Đã mất đi cho đất, nước luôn còn...
                                                 TRẦN-HUYỀN-ÂN
Với những bài học về lịch sử ca ngợi một vị anh hùng dân tộc nào đó, thông thường ở tựa đầu bài có câu thơ hoặc vài lời vắn tắc diễn tả công trạng, tính cách điển hình của nhân vật đó:
Hai mốt Lê Lai hai hai Lê Lợi- Lê Lai
Thù nước chưa trả đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt đã bao ngàyĐặng Dung
Phá cường địch, báo Hoàng ânTrần Quốc Toản
Anh hùng bán thanTrần Khánh Dư
Ngồi đan sọt mà lo việc nướcPhạm Ngũ Lão
Thất trảm sớ - Xin chém đầu bảy nịnh thầnChu Văn An
Thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất BắcTrần Bình Trọng
Nghĩ lại, thấy bản thân đã tự đánh mất cái “logit” mà người đời thường ví “con nhà giàu học dốt”…? nhưng ngược lại với tôi “con nhà nghèo lại học dốt ”. Lúc ấy tôi chẳng nhận được sự định hướng cho việc học tập, bản thân cũng chưa có một khái niệm gì về học hành, hằng ngày ôm sách vở đến trường rồi lại về nhà... Đúng với  câu từ mà gia đình thường dành cho tôi, sao mà “lêu lổng” rứa? Thật ra “từ ngữ” này nó có nhiều cấp độ, với bản thân tôi tuy học dốt nhưng rất hiền, sẳn sàn giúp đỡ, thương yêu mọi người, chỉ có cái tội là ham chơi. Mỗi buổi trưa đều có lệnh tất cả đi “ngủ trưa” vậy là ai cũng nghe lời nằm sắp lớp trên nền xi-măng để nghỉ trưa, thế nhưng nằm xuống chỉ vài phút cho yên ổn là tôi len lén đứng dậy lấy vài viên bi, nắp ken… ra khỏi nhà đi chơi ăn thua với bạn trẻ ở hàng xóm; trưa nào không còn “tài khoản” thì lại đến xem các anh đánh bi da,  bóng bàn... buổi tối lại chơi trốn tìm hoặc qua nhà ông Quang xem vô tuyến truyền hình; nào là phim cao bồi, com-bat, lỗ tai lừa...rất là hấp dẫn với bọn trẻ chúng tôi thời ấy. Cái ”lêu lổng” của tôi là rứa đó!... Cuối lớp Năm-niên khóa 1968-1969, thi rớt vào lớp đệ thất trường công Phan Chu Trinh, nhưng cũng đủ điểm chuyển cấp, tôi xin vào học lớp đệ thất ở trường tư thục “Trung học Bồ Đề”.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

CHÀO MỪNG CÁC BẠN ĐẾN VỚI TRANG CỰU HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC BỒ ĐỀ ĐÀ NẴNG