Trần Tống - 03/2014
1. Quê
nhà – Thời thơ ấu
Quê
hương “nơi chôn nhau cắt rún” của tôi
là Thôn Tiệm Rượu, xã Xuyên Mỹ, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam (nay
là Thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên,
tỉnh Quảng Nam). Làng tôi nằm bên bờ sông Thu Bồn, ngay đầu cầu Câu Lâu trên Quốc lộ I chạy qua tỉnh Quảng Nam , có quá trình lịch sử từ thời vua Lê Thánh Tông đi mở đất. Thời Pháp thuộc, người Pháp mở một xưởng rượu Sika tại làng này nên làng
còn có tên là Tiệm Rượu.
Hình ảnh: nguồn internet
“Sông Thu nước chảy đôi dòng,
Đèn khêu hai ngọn anh trông ngọn nào?
Muốn tắm mát lên ngọn sông đào,
Quảng
Nam quê tôi được biết đến không chỉ là vùng đất có nhiều truyền thuyết về tình
cảm và lễ hội mà nơi đây còn là quê hương của biết bao anh hùng dân
tộc như Huỳnh Thúc Kháng, Trần Cao Vân, Phan Châu Trinh, Hoàng
Diệu, Trần Qúy Cáp, Nguyễn Văn Trỗi, Võ Chí Công... Quảng Nam còn mang
trong mình nhiều tiềm năng du lịch với hai di sản văn hóa thế
giới Mỹ Sơn và Hội An... Lễ hội Bà Thu Bồn là lễ hội thể hiện tín ngưỡng của người
dân sống dọc sông Thu Bồn; sự giao thoa, tiếp
biến văn hóa giữa người Việt và Chăm. Trong tâm thức người Việt ngày nay “Bà” còn gắn với truyền thuyết về Mẹ-Mẹ
Thu Bồn hay Nữ thần Sông.
Hình ảnh: nguồn internet
Ca
dao Việt Nam nói chung và xứ Quảng nói riêng rất đa dạng nói lên tình yêu của tuổi xuân nam nữ, những lời ru ca trên
cánh đồng lúa giữa trưa hè trong tiếng ve sầu, hoặc nói
lên lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ, cũng có thể là những lời giới
thiệu mộc mạc về các địa danh của quê nhà thân yêu, hoặc những lời ca
bâng quơ của bà-mẹ-chị ... ngâm ca lên khi ru cháu,
dỗ con ngủ. Những
âm hưỡng dân gian ấy đã ăn sâu trong tìm thức của tôi từ thời thơ ấu.
“Công cha như núi
Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước
trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính
cha
Cho tròn chữ hiếu mới
là đạo con”
“Ru con, con ngủ cho ngon
Ðể mẹ đi chợ mua vôi
ăn trầu
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh”
“Hồi nhỏ tôi ở với cô
Cô đánh, cô đuổi, cô xô tôi về
Cô kêu cô hỏi tôi về làm chi
Tôi về bắt ốc, hái rau
Quay tơ đánh ống, tôi giàu hơn cô
Nhà tôi có cặp gà ô
Nhà tôi có cặp gà
rừng
Đêm khuya nó gáy tưng
bừng cô nghe ”
“Chiều chiều ra đứng
ngỏ sau
Trông về quê mẹ ruột
đau chín chiều”
“Chim bay về núi tối rồi
Chị còn gánh gạo mà ngồi đong ang”
“Mẹ ơi đừng đánh con đau,
Để con bắt ốc, hái rau mẹ nhờ.
Bắt ốc ốc nhảy lên bờ
Hái rau rau héo, mẹ nhờ chi con?”
Tôi sinh ra ở Quảng Nam trong một gia đình nông dân nghèo-làm thuê không có đất ruộng. Anh chị đã
có vợ có chồng, người ở Đà Nẵng kẻ ở Tam Kỳ, cha làm công ở một cơ sở in ấn dưới
Hội An, mẹ cả ngày “bán
mặt cho đất, bán lưng cho trời” trên đồng, trưa chiều mới về tới
nhà. Nhà tôi cách bờ sông Thu Bồn khoảng chừng 300 m vậy mà
tôi không dám tắm sông, vì không biết bơi nên chỉ tắm giếng; tôi cứ ru rú trông
nom nhà một mình chưa hề thưởng thức được cái cực khổ nhưng thích thú của cậu bé chăn trâu; đã
lên 6 tuổi thế mà tôi chưa được đến lớp…
“Ai bảo chăn trâu là khổ
Chăn trâu sướng lắm chứ
Ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau
Và miệng hát nghêu ngao…”
“Đất Quảng
Rượu
hồng đào chưa nhấm đã say
Bạn
về đừng ngủ gác tay
Nơi
mô nghĩa nặng, ân đầy thì theo”
2. Lớp
Vỡ lòng – Mẫu giáo
Do cảnh chiến tranh bom rơi đạn lạc mà tôi phải rời xa quê hương, vùng
đất thơ ca, lễ hội, mãnh đất “Ðịa Linh Nhân
Kiệt” “Ngũ Phụng Tề Phi”... Đến năm tôi 7 tuổi (1963), mẹ và tôi ra sống ở nhà chị hai tại thành phố Đà
Nẵng; anh rể của tôi là binh nhất lính
quân vận- Đại đội 10 Tiếp liên đóng ở góc ngã tư đường Lê Đình Dương và Độc Lập. Từ đây tôi được vào lớp vỡ lòng-mẫu giáo; lớp học dành
cho con em ở trại lính; lớp học được trang bị đầy đủ tiện nghi phục vụ cho việc
học tập cũng như vui chơi cho trẻ em như ngựa gỗ, xe đạp nhỏ 3 bánh, xích đu...
đến giờ ra chơi, mỗi em được phát cho một miếng bánh mì không và một ly sữa bột
(chương trình tài trợ của chính phủ Việt
Nam Cộng Hòa).
Hình ảnh: nguồn internet
Đến bây giờ tôi vẫn
không thể nhớ lại tên cô giáo vỡ
lòng đã dạy tôi những bài hát, bài học thuộc lòng đầu đời... Tuy nhiên tôi không
thể nào quên cô giáo dạy lớp mẫu giáo với khuôn mặt thật dễ mến, có giọng nói
nhỏ nhẹ, luôn
trong chiếc áo dài thướt tha. Năm ấy tôi ngồi dãy ngoài
sát với lối đi, vì vậy tôi thường vuốt nhẹ tà áo dài mỗi khi
cô giáo đi ngang qua, hành
động ấy chẳng có ai dạy bảo hoặc sai khiến tôi cả, bản thân tôi cũng không hiểu
vì sao mình làm như vậy? Chắc có lẽ vì yêu mến cô giáo, cuối năm học tôi đã trở thành một
trong những học sinh ngoan ngoãn nhất lớp.
Nhớ lại những ngày còn bé ấy, với
mình trần nằm lê la trên nền nhà bằng ximăng mà ê a những bài đọc thuộc lòng mỗi trưa hè ôi ả của khí
hậu miền Trung. Những bài học thuộc lòng thời đó, thật mộc mạc câu từ,
nhưng sao nó vẫn luôn tồn tại trong tâm trí của tôi.
“Chú Minh có cái đồng hồ
Vừa bằng quả quít to to tròn tròn
Quả quít vừa ngọt vừa ngon
Đồng hồ tích tắc để nom thời giờ”
“Beng, Beng, Beng
Đến giờ ra chơi
Xếp sách cho mau
Nghiêm! ta đứng lên
Ùa ra chơi…
Kia bắn bi
Kia nhảy dây
Ma da bủm xè…”
“Trời mưa em che nón lá
Nắng lên cho hồng
đôi má
Nắng lên cho đẹp
màu da
Xem đây xem đây...
Nón ai như nón bài thơ
Nón che cho cô học trò
Ngày hai bữa lên trường học tự do”
“Chữ Quốc ngữ, chữ nước ta
Con cái nhà, đều phải học
Miệng thì đọc, tai thì nghe
Đừng khóc nhè, chớ láu táu
Em lên sáu, học vỡ lòng
Đọc cho thông, thì mẹ mến”




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét