Thứ Hai, 29 tháng 4, 2019

TẢN MẠN KÍ ỨC THUỞ ẤY...(3. Trung học)

Trần Tống 05/2014
 4.     Bậc Trung học
Từ năm 1969 đến 1975 tôi theo học lớp Đệ thất (Lớp 7) đến lớp Lớp 11 ở trường Trung học Bồ Đề Đà Nẵng. Đến năm 1969 khi tôi vào học ở đây, trường Bồ Đề đã có đủ các cấp lớp từ lớp đệ Thất đến lớp đệ Nhất. Khuôn viên sân trường rất rộng, nằm ở mặt tiền đường Quang Trung, cơ sở phòng học gồm có 3 dãy khối, dãy mặt tiền gồm 2 tầng, một phần tầng trệt dành làm văn phòng nhà trường, phòng giáo sư nghi giải lao giữa giờ, số phòng còn lại thường dành cho học sinh khối đệ nhị cấp. Dãy phía phải cũng có 2 tầng, riêng dãy trong cùng chỉ có một tầng. Tôi còn nhớ lúc tôi vào trường, có đến 11 lớp  đệ Thất, một số lớp theo sinh ngữ chính Anh văn, còn lại theo sinh ngữ chính Pháp văn (tôi chọn sinh ngữ chính Pháp văn, vào học lớp đệ Thất 10). 

Đồng phục nam là quần màu xanh và áo sơ mi trắng, nữ sinh thì áo dài trắng. Vì vậy trông ai cũng na ná giống nhau, ít có mặc cảm nhà nghèo. Mỗi sáng thứ hai học sinh xếp hàng theo khối lớp để chào cờ, ngày bình thường khi vào lớp trước giờ học đầu tiên phải đọc kinh.
Khoảng cách từ nhà đến trường khoảng 3 km, lúc ấy chúng tôi học theo giờ không phân biệt rành rọt học buổi sáng hay buổi chiều, vì vậy có ngày tôi phải 2 lần đến trường, như vậy tôi phải đi bộ vừa đi vừa về đến 12 km/ngày.
Năm đầu tiên bước chân vào ngưỡng cửa trung học, lòng rộn ràng với biết bao điều mới lạ trong những giờ học đầu tiên với thầy cô phụ trách những môn học mới lạ như Lý hoá, Pháp văn… Hai lớp đầu ở bậc trung học (lớp Đệ Thất và Đệ Lục) tôi vẫn còn vô tư trong tuổi đến trường như bậc tiểu học, tôi là một học trò dở toàn diện, tất cả các môn đều chỉ đạt trung bình … 

Từ năm lớp 8 đến năm lớp 11 (đến năm này không còn gọi lớp Đệ Ngũ mà gọi là lớp 8), đây là một giai đoạn quan trọng của bản thân khi bước vào ngưỡng tuổi mới lớn và bắt đầu ý thức được tầm quan trọng của học vấn với nhiều niềm vui và kỷ niệm... Những ngày bắt đầu khai giảng lớp 8, nhiều bạn trong lớp rũ nhau nộp đơn thi vào trường Kỷ thuật Cao Thắng, thế là tôi cũng nộp đơn để thử vận may vì năm lớp Đệ Lục tôi có học hành gì đâu mà thi với cử. Sau khi hoàn thành các môn thi, đưa đề thi toán cho một người anh ở hàng xóm giải, anh ta thốt lên một câu “dễ như ri mà làm không được, chỉ có rớt thôi!”. Và anh ta đã giải cho tôi, rồi hướng dẫn phương pháp học và làm toán căn bản phải thuộc nguyên lý, định lý… để áp dụng vào từng bài toán. Từ đây tôi mới biết các trường hợp tam giác bằng nhau, tam giác đồng dạng…và tôi đã tự giải được các bài toán, nhờ vậy bắt đầu tôi thích môn toán và sau này là học sinh giỏi toán. Cuối năm ấy lần đầu tiên trong đời tôi được lĩnh phần thưởng khuyến khích, đây là một sự kiện quan trọng, cái bước ngoặc ấy đã giúp tôi từ một đứa trẻ ham chơi luôn mặc cảm vì học dốt, nay tự tin hơn để trở thành một học sinh ham học.

Trong những “kỳ thi cử"
” kỷ niệm kỳ thi giỏi toán năm lớp 9 thật khó quên! Cuối kỳ thi đệ nhị lục cá nguyệt, tôi và một số bạn được cử đi thi học sinh giỏi toán thành phố. Là một trong những học sinh giỏi toán của liên lớp 9, nên với các kỳ thi lục cá nguyệt tôi chẳng hề lo lắng gì trước và trong ngày thi, nhưng sao hôm thi này tôi thấy hồi hộp và lo sợ thật nhiều? Buổi sáng thi môn Đại Số, vừa đọc lướt qua cái đề toán dài lượt thượt, tôi đã hình dung ra rằng phần lớn là những câu hỏi toán khó, thậm chí có những câu mà tôi không thể biết cách giải! Và buổi chiều môn Hình Học cũng khó không kém gì môn Đại Số. Đúng vậy, khi kết thúc ngày thi tôi đánh giá rằng mình chỉ làm đúng được khoảng 1/3 bài thi. Vì trong đề thi ngoài các câu hỏi khó chính chương trình chính, còn thêm những bài toán có mở rộng kiến thức ở lớp trên… Nếu tôi nhớ không lầm, kì thi giỏi toán này liên lớp 9 trường Bồ Đề năm ấy chỉ có Hoàng Hữu Thuận (cùng lớp với tôi) được giải khuyến khích. Sau kì thi này tôi mới hiểu ra rằng muốn đạt được danh hiệu học sinh giỏi thì không những cần phải giỏi kiến thức ở lớp ta dang học mà cần phải mở rộng nắm bắt thêm kiến thức đầu lớp trên...

Mùa hè 1973 là mốc thời gian đáng nhớ nhất trong đời học sinh của lứa tuổi chúng tôi lúc bấy giờ vì năm sau chúng tôi bước vào trung học đệ nhất cấp; một số bạn nam được tuyển vào trường công lập Phan Chu Trinh, một số bạn nữ lại chuyển sang trường nữ trung học Hồng Đức, hoặc có bạn tuy vẫn tiếp tục ở lại trường nhưng phải học ở lớp khác vì lên lớp Mười đã có phân ban ( Ban A : Các môn Tự Nhiên, Ban B : chuyênToán, Ban C : chuyên Văn). Cuối năm lớp 9, những quyển lưu bút tuổi học trò được trao cho nhau, ghi lại những tâm tình, những chuyện buồn vui, hờn giận, những dòng lưu niệm suốt những niên học đã qua, đặc biệt là những cảm xúc khó tả của khoảnh khắc ngày chia tay của năm cuối cấp Lớp 9.

Kỷ niệm khó quên nhất của bản thân tôi ở cấp trung học là vào năm lớp 10. Năm ấy tôi học lớp 10B5 giáo sư Nguyễn Văn Hiên làm chủ nhiệm lớp, phụ trách môn toán. Là một trong những học sinh rất nhạy bén với môn toán, nhất  là đầu giờ có toán chạy; đồng phục nam sinh lúc bấy giờ là quần xanh áo trắng, thế nhưng với vết sờn trên vai áo của chiếc áo đã ngã màu “cháo lòng” của tôi đã làm cho thầy thấy thương tình. Rồi một hôm, lúc giờ ra chơi thầy bảo tôi lên văn phòng gặp thầy, trình bày hoàn cảnh khó khăn của tôi cho thầy nghe. Đến kỳ lương tháng thầy gọi tôi lên văn phòng và thầy nói “từ tháng nầy thầy sẽ giúp đỡ cho em một số tiền trích từ tiền lương tháng của thầy”. Tôi cuối đầu cảm ơn và hai tay nhận phong bì thầy trao… Và sau đó Thầy đã vận động với tinh thần tương thân tương ái “một miếng khi đói bằng một gói khi no” “lá lành đùm là rách” các bạn trong lớp đã giúp đỡ,  tặng tôi những chiếc áo cũ; đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ những chiếc áo màu trắng của bạn Bùi Tiến Dũng, Nguyễn Văn Dũng, áo màu xanh của bạn Lê Văn Mạnh, Hoàng Hữu Thuận… Bài học về đạo lý làm người, mối quan hệ tình cảm đậm đà, tương trợ nhau trong sinh hoạt, học tập đó tôi không bao giờ quên!

Cuối năm lớp 11: Vào khoảng đầu tháng 03/1975 chiến sự ở Quảng Trị, Huế đã bùng nổ, dân chúng bỏ nhà cửa ruộng vườn bồng bế nhau đổ dồn vào Đà Nẵng. Trung tuần tháng 03/75 gia đình quân đội, công chức … tìm đủ mọị cách để rời khỏi Đà Nẳng. Chuẩn bị sẳn sàng từ ngày 27/03/1975 đến rạng sáng ngày 29/03/1975 tàu quân vận mới chính thức rời khỏi cảng Đà Nẵng đưa gia đình tôi và đoàn người di tản vào Nam. Sau hơn hai tuần ra khơi vượt biển chúng tôi đã đến Vũng Tàu, và cuối cùng cũng đã vào đến Sài Gòn “Hòn Ngọc Viễn Đông”. Trong cuộc hành trình lịch sử đó, tôi đã tận mắt chứng kiến biết bao cảnh thật thương tâm, đau lòng...Trong tình cảnh hoang mang của người dân, cảnh hỗn loạn ở Đà Nẵng, nhiều người chen lấn, bất chấp cả tính mạng dẫm dạp lên nhau cố leo lên những tàu quân vận loại nhỏ ở bến Bạch Đằng trên sông Hàn để được đưa ra tàu lớn ngoài cảng Tiên Sa - Sơn Trà hòng di tản vào Nam; Cảnh hàng chục gia đình ngồi chật cứng trong hầm tàu hoặc phải chịu cái nắng như rang, thiếu nước ngọt, ngồi trên boong của những chiếc xà lan không có mái che, được cột một cách không an toàn vào chiếc tàu khác kéo lênh đênh hàng tuần trên biển cả mênh mông; Rồi sau đó, một cảnh tang tóc, thất thần với những xác người đã chết, hôi thối nằm ngỗn ngang trên sàn chiếc xà lan đã bị đứt dây buột trôi dạt vào bờ sau nhiều ngày lênh đênh trên biển...

Hơn một tháng, sau một tuần lễ nằm ở Vũng Tàu, bây giờ những chiếc tàu chở  người tị nạn từ Đà Nẵng đã được phép vào nội thành và được neo đậu ở bến Tân Cảng-Sài Gòn nhờ vậy tôi được chứng kiến nhiều cảnh tượng trước và sau ngày 30/04/1975 tại đây. Đêm 26/04 rạng sáng ngày 27/04 súng nỗ rền vang, máy bay trực thăng quần thảo và nhả đạn trên bầu trời trong trận giao chiến ở cầu Rạch Chiếc; khoảng giữa trưa ngày 28/04/1975 là trận đánh tại cầu Tân Cảng-Sài Gòn, các nẻo đường vắng ngắt dẫn về Tân Cảng, bến tàu Sài Gòn, lại xao động bởi tiếng máy nổ của đủ loại xe, xen lẫn là các tràng súng, đạn cối rơi, hỏa tiễn nỗ rền vang...


Ngày 30/04/1975, khắp các đường phố mà tôi đi qua, xe tăng, ô tô, xe máy bỏ lại nằm rãi rác trên những con đường; áo quần lính chất đống hổn độn với những khẩu súng vút bừa bãi khắp đường phố; trên đường Hồng Thập Tự phía ngoài cổng Nha Canh Nông, đường Yên Đỗ nơi có thư viện Đắc Lộ nhiều loại sách tiếng Anh, tiếng Pháp, sách giáo khoa … rất có giá trị bị ném đi không thương tiếc, nằm ngỗn ngang bên lề đường... trong tình cảnh lúc bấy giờ mọi người ngơ ngác không dám nhìn. Thành phố lộn xộn không ai còn kiểm soát, dân tình mở cửa vào các kho bãi để lấy đi những gì có thể lấy được như gạo, đồ hộp, nước ngọt, bánh kẹo… ở Kho 5 Cảng Sài Gòn, Kho Quân sự ở Tân Cảng...  
Khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh Sài Gòn lúc 11 giờ ngày 30/04/1975 đường phố Sài Gòn vắng lặng, tiếng đại bác đã ngưng… Xe tăng T54 được các thành phần nằm vùng mặc thường phục, đeo cờ xanh đỏ sao vàng hướng dẫn tiến về dinh Ðộc lập…

Hai tháng trôi qua, và cuối cùng gia đình tôi lại theo đoàn xe tải “ba-lua” suốt  hành trình 5 ngày đêm từ Sài Gòn về Đà nẵng với biết bao kỉ niệm trong chuyến xe để trở lại quê hương, với những đoạn đường quốc lộ kinh hoàng và những sự việc không tưởng đã xảy ra... Chiến tranh mang đến biết bao nhiêu khổ đau cho chúng ta, hàng trăm gia đình phải li tán, cảnh người mẹ mất con, người vợ mất chồng ... Giờ đây ta đang hưỡng cuộc sống trong hòa bình, cầu mong chiến tranh sẽ không bao giờ đến với dân tộc Việt Nam nữa.
Sau ngày định mệnh 30/04/1975 đến với miền Nam Việt Nam, trường Bồ Đề đã đổi tên thành trường Nguyễn Huệ. Những cựu học sinh Bồ Đề chúng tôi lưu lạc khắp nơi; có bạn di tản vào Nam sinh sống, có bạn về quê, có bạn phải bỏ học vì hoàn cảnh quá khó khăn, một ít bạn gặp may mắn hơn định cư ở nước ngoài… Nhưng dù ở phương trời nào, niềm hảnh diện,  niềm thương mến về ngôi trường xưa yêu dấu vẫn luôn giữ trong tim của mỗi chúng tôi. Tình cảm về thầy cô, bạn bè ở ngôi trường Bồ Đề không bao giờ có thể nguôi ngoai trong trái tim và phai mờ trong tâm hồn tôi...
Trần Tống 04/2014

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

CHÀO MỪNG CÁC BẠN ĐẾN VỚI TRANG CỰU HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC BỒ ĐỀ ĐÀ NẴNG